Nghiên cứu này so sánh sự phát triển, hiệu quả hoạt động và khả năng phục hồi của Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) và Sở Giao dịch Chứng khoán Úc (ASX) trong giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2025.

Hai thị trường này thể hiện sự tương phản trong động lực của một sàn giao dịch mới nổi và một sàn giao dịch đã trưởng thành. Sàn giao dịch chứng khoán Úc (ASX) thể hiện chiều sâu, tính thanh khoản và sự ổn định cao, được hỗ trợ bởi các nhà đầu tư tổ chức, dòng vốn đóng góp bắt buộc vào quỹ hưu trí và cấu trúc pháp lý vững chắc. Ngược lại, Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh đã mở rộng nhanh chóng từ một nền tảng nhỏ, chủ yếu do nhà đầu tư cá nhân điều hành, thành một thị trường mới nổi quan trọng, nhưng vẫn đang phải vật lộn với sự biến động, tập trung ngành và những nút thắt về cơ sở hạ tầng. Phân tích này dựa trên số liệu thống kê mô tả và các nghiên cứu trường hợp khủng hoảng – bao gồm Khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 và cú sốc COVID-19 năm 2020 – để đánh giá hiệu suất thị trường trong điều kiện căng thẳng. Nó nêu bật những khác biệt chính về quy định, đặc biệt là việc Sydney dựa vào các biện pháp kiểm soát biến động năng động và khung pháp lý về bán khống so với việc Thành phố Hồ Chí Minh sử dụng các biên độ giá cố định hàng ngày. Các phát hiện cho thấy thêm rằng các cải cách thị trường vốn của Việt Nam, bao gồm Luật Chứng khoán năm 2019, việc tự do hóa các quy định về sở hữu nước ngoài, việc thực thi Nghị định 245/2025/NĐ-CP và việc triển khai nền tảng giao dịch của Sở Giao dịch Chứng khoán Hàn Quốc (KRX) vào năm 2025, tạo nền tảng vững chắc hơn cho hiện đại hóa và khả năng phục hồi của thị trường. Phân tích nhấn mạnh các cơ hội mới do KRX tạo ra, bao gồm năng lực giao dịch trong ngày, nâng cao hiệu suất hệ thống, cải thiện an toàn sau giao dịch và nền tảng cho bán khống. Các khuyến nghị chính sách bao gồm thực hiện kiểm soát lệnh động, từng bước triển khai bán khống có giám sát, tăng cường khung pháp lý cho các công cụ phái sinh (có thể nâng lên cấp Luật), mở rộng thị trường quỹ ETF và các công cụ phái sinh, và đẩy nhanh quá trình tự do hóa sở hữu nước ngoài có kiểm soát được hỗ trợ bởi mô hình thanh toán bù trừ trung tâm. Cùng nhau, những bước này có thể củng cố cơ sở hạ tầng thị trường của Thành phố Hồ Chí Minh, thu hút vốn đầu tư tổ chức dài hạn và giảm sự phụ thuộc vào dòng vốn bán lẻ biến động.

Bài báo này là một phần của chuỗi nghiên cứu hợp tác AVPI cung cấp tư vấn chính sách cho việc phát triển Trung tâm Tài chính Quốc tế của Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh. Để biết thêm chi tiết về những phân tích này, vui lòng tải xuống bài nghiên cứu bên dưới.

ngày xuất bản
Thứ Hai ngày 27 tháng 2026 năm XNUMX
Tác giả
Anh le
Đại học RMIT
Ngan M Nguyen
Đại học RMIT
Mỹ Nguyễn
Đại học RMIT
Anh Phạm
Đại học RMIT
Thảo Trần
Đại học RMIT
Kiên Vũ
Viện Nghiên cứu Phát triển Thành phố Hồ Chí Minh
Cộng tác viên