Mối quan hệ có thể được nâng cao vào năm tới, khi hai quốc gia kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao. Nhưng nó sẽ phù hợp với sự phát triển thực chất?

Cuối tuần qua, Chủ tịch Quốc hội Việt Nam Vương Đình Huệ đến thăm Canberra và hội đàm với một số quan chức cấp cao Australia, trong đó có Thủ tướng Anthony Albanese. Huế, ủy viên Bộ Chính trị và là người đứng thứ tư trong “tứ trụ” quyền lực nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN), là nhà lãnh đạo cấp cao đầu tiên của Việt Nam đến thăm Úc trong bốn năm qua. Chuyến thăm của Huế cũng sẽ đặt bước đệm tiếp theo hướng tới việc thiết lập quan hệ đối tác chiến lược toàn diện khi hai quốc gia kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao vào năm tới.

“Đối tác chiến lược toàn diện” là cấp độ trên “đối tác chiến lược” mà Australia thiết lập với Việt Nam năm 2018, nhân kỷ niệm 45 năm thiết lập quan hệ ngoại giao. Ý tưởng nâng cấp quan hệ đối tác chiến lược lần đầu tiên được đề xuất bởi cựu Thủ tướng Úc Scott Morrison vào tháng 2021 năm XNUMX, trong một cuộc họp nói chuyện điện thoại với người đồng cấp Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc, người hiện là chủ tịch nước. Bốn tháng sau, Morrison lặp lại lời đề nghị trong lần đầu tiên gọi điện thoại với Thủ tướng Việt Nam mới đắc cử Phạm Minh Chính. Khi Morrison gặp riêng Chinh bên lề COP26 tại Glasgow vào tháng XNUMX năm đó, ông đã gọi quan hệ đối tác chiến lược giữa hai nước là "năng động."

Các nhà ngoại giao Việt Nam coi quan hệ đối tác chiến lược toàn diện phản ánh mức độ hợp tác chính trị và niềm tin chiến lược, và Bộ trưởng Ngoại giao Úc Penny Wong gần đây cho biết quan hệ đối tác Việt Nam-Úc là “dựa trên sự tin tưởng” và rằng “mối quan hệ giữa Australia và Việt Nam ngày càng sâu sắc.” Thật vậy, quan hệ Việt Nam-Úc ngày càng được đặc trưng bởi sự hội tụ của các lợi ích chiến lược và cốt lõi.

Điều này được củng cố bởi nhiều cách mà Úc nổi bật là “đầu tiên” và “duy nhất” về các vấn đề liên quan đến Việt Nam. nó nằm trong số đầu tiên Các nước phương Tây thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam (1973) trước khi chiến tranh Việt Nam kết thúc. Úc nằm trong số duy nhất Các nước phương Tây ủng hộ Việt Nam trở thành thành viên Liên hợp quốc (1977). Sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc năm 1975, cơ quan ngoại giao Australia tại Hà Nội trở thành duy nhất cầu nối liên lạc giữa Việt Nam và các quốc gia phương Tây khác không có đại diện ngoại giao của họ tại thủ đô của nhà nước cộng sản.

Năm 1994, Paul Keating trở thành đầu tiên Thủ tướng Úc và là người đứng đầu chính phủ phương Tây thứ hai thăm Việt Nam thống nhất sau chiến tranh (1994). Australia viện trợ Việt Nam xây dựng đầu tiên cầu bắc qua sông Mekong ở phía Nam Việt Nam. Khi Việt Nam bắt đầu chương trình Đổi Mới về cải cách kinh tế, Úc đã một trong những XNUMX quốc gia đầu tư nhiều nhất vào Việt Nam. ANZ là đầu tiên ngân hàng từ một quốc gia nói tiếng Anh để mở chi nhánh và cung cấp đầu tiên Dịch vụ ATM tại Việt Nam. Phillips Fox của Úc là đầu tiên công ty luật nước ngoài được trao giấy phép hoạt động tại Hà Nội và tiên phong xuất bản bộ luật đầu tư nước ngoài bằng tiếng Anh của Việt Nam. RMIT được trao giấy phép trở thành đầu tiên đại học nước ngoài thành lập tại Việt Nam, và Đại học Swinburne là một trong đầu tiên các trường đại học nước ngoài được phép đào tạo tại Việt Nam từ những năm 1990. Úc là đầu tiên quốc gia phương Tây để lưu trữ chuyến thăm của Chủ tịch Quốc hội Việt Nam năm 1990 và chuyến thăm của Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1995.

Các cuộc thảo luận về việc nâng cấp mối quan hệ lên đối tác chiến lược toàn diện dường như đã chậm lại trong những tháng gần đây, do hai quốc gia đang phải vật lộn với COVID-19 và cuộc bầu cử liên bang của Australia vào tháng XNUMX.

Cuộc bầu cử đã đưa Đảng Lao động Úc lên nắm quyền. Không giống như chính phủ Morrison, chính phủ Anthony Albanese dường như đã thực hiện một cách tiếp cận ngoại giao nhẹ nhàng hơn, yên tĩnh hơn và thận trọng hơn. Trong những tháng đầu tiên nhậm chức, cụm từ “quan hệ đối tác chiến lược toàn diện” đã không được nhắc đến trước công chúng để mô tả tương lai của quan hệ đối tác Australia-Việt Nam trước chuyến thăm của Huế. Tuy nhiên, mọi thứ trở nên rõ ràng hơn trong chuyến thăm tuần trước.

Mục tiêu thiết lập quan hệ đối tác chiến lược toàn diện đã được lặp lại trong các cuộc gặp giữa Huế và các quan chức Úc khác, bao gồm Albanese, Wong, Toàn quyền David Hurley, Bộ trưởng Quốc phòng Richard Marles, và Lãnh đạo phe đối lập Peter Dutton. Đại sứ Việt Nam tại Australia Nguyễn Tất Thành nhận xét quan hệ Việt Nam - Australia đã đạt một điểm trưởng thành được thiết lập để bước vào một giai đoạn mới của lòng tin, bao hàm việc thiết lập quan hệ đối tác chiến lược toàn diện.

Wong nói cụ thể hơn, như được trích dẫn trên các phương tiện truyền thông Việt Nam rằng “cuộc thảo luận về khả năng độ cao của mối quan hệ cho quan hệ đối tác chiến lược toàn diện nhân dịp kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước sẽ là một bước tiến, một thành tựu quan trọng.”

Câu hỏi hiện nay là quan hệ đối tác chiến lược toàn diện giữa Australia và Việt Nam sẽ bao hàm những gì?

Vào tháng XNUMX, Đại sứ Việt Nam Thanh tóm tắt hợp tác song phương hiện nay bao gồm ba trụ cột và tám vấn đề ưu tiên. Ba trụ cột là hợp tác kinh tế, hợp tác quốc phòng, an ninh và đổi mới sáng tạo. Tám vấn đề ưu tiên là giáo dục và đào tạo, năng lượng và tài nguyên, nông-lâm-hải sản, công nghiệp chế tạo, du lịch, khoa học-công nghệ, kinh tế số và dịch vụ.

Trong khi đó, Chủ tịch Huệ, trong một bài phát biểu trước Viện Chính sách Úc-Việt vào tuần trước, đã nhấn mạnh những điều sau: ba ưu tiên chính: (i) tăng cường hợp tác kinh tế-thương mại; (ii) làm sâu sắc hơn nữa hợp tác chiến lược, an ninh và quốc phòng; và (iii) xây dựng các trụ cột hợp tác chiến lược trong chia sẻ tri thức, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo, đặc biệt chú trọng hợp tác trong lĩnh vực năng lượng xanh và công nghệ. Huế cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của hợp tác địa phương và liên kết giữa người với người, coi đó là trụ cột quan trọng của quan hệ Việt Nam-Úc.

Rõ ràng, một quan hệ đối tác chiến lược toàn diện sẽ bao trùm tất cả các lĩnh vực nêu trên, đồng thời dẫn đến việc củng cố và mở rộng chúng. Nhìn chung, quan hệ đối tác chiến lược toàn diện có thể được xây dựng trên XNUMX trụ cột sau: (i) tin cậy và hợp tác chính trị; (ii) tăng cường kinh tế, thương mại, đầu tư và nông nghiệp; (iii) hợp tác quốc phòng, tình báo và an ninh; (iv) giáo dục, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo; (v) liên kết giữa người với người.

Tiến độ của từng trụ cột trong số năm trụ cột được đề xuất ở trên cho đến nay là rất ấn tượng, nhưng vẫn còn thiếu những mảnh ghép trong mỗi lĩnh vực này, không đạt được bản chất chiến lược của quan hệ đối tác. Hãy lấy hợp tác kinh tế và quốc phòng, hai trong số những lĩnh vực hợp tác chiến lược quan trọng nhất, làm ví dụ.

Về kinh tế và thương mại, Việt Nam và Úc Ký kết Chiến lược Tăng cường Hợp tác Kinh tế Úc-Việt Nam vào năm 2021, đã thúc đẩy kim ngạch thương mại hai chiều lên gần 14 tỷ USD trong 10 tháng đầu năm 2022, tăng 33% so với cùng kỳ năm 2021, đưa Australia và Việt Nam trở thành đối tác thương mại lớn thứ bảy và thứ mười của nhau, tương ứng. Tuy nhiên, hiện chưa có cơ chế tập hợp các quan chức cấp cao của cả hai bên để thảo luận và tìm cách tháo gỡ những nút thắt và thách thức trong bộ máy quan liêu và văn hóa kinh doanh cản trở sự hợp tác hơn nữa. Dự kiến, một cuộc đối thoại cấp bộ trưởng thương mại sẽ được tổ chức vào năm tới. Cuộc đối thoại này nên được thiết lập thường xuyên.

Bài báo này ban đầu được xuất bản trên The Diplomat và đã được tái bản với đầy đủ sự cho phép của tác giả. Để xem bài viết gốc vui lòng bấm vào ở đây.

Tiến sĩ Nguyễn Hải Hồng là Nghiên cứu viên Danh dự tại Trung tâm Tương lai Chính sách, Đại học Queensland, là Đối tác Kiến thức của AVPI.

ngày xuất bản
Thứ Hai, ngày 12 tháng 2022 năm XNUMX
Tác giả
Nguyễn Hải Hồng
Nghiên cứu viên danh dự, Trung tâm Tương lai Chính sách, Đại học Queensland.